Chuyên mục: 17.2 Thuốc chống nôn

Các thuốc chống nôn được chỉ định trong các chứng nôn do có thai, sau mổ, nhiễm khuẩn, nhiễm độc, say tàu xe và do tác dụng phụ của thuốc, nhất là thuốc chống ung thư. Các nhóm thuốc chống nôn gồm có: Thuốc ức chế phó giao cảm: atropin, scopolamin; thuốc kháng histamin H1: diphenhydramin, hydroxyzin; thuốc kháng serotonin: ondansetron; thuốc gây tê ở ngọn dây cảm giác ở dạ dày (natri citrat, procain), các benzodi- azepin, corticoid. Nhưng nhóm thuốc chống nôn quan trọng nhất là thuốc kháng thụ thể D2 dopaminergic như: metoclopramid, domperidon, promethazin, butyrophenol.

Metoclopramid có tác dụng chống nôn và cũng kích thích nhu động phía trên đường tiêu hoá. Metoclopramid có hiệu quả đối với nôn và buồn nôn do rối loạn tiêu hoá hoặc chứng đau nửa đầu, sau phẫu thuật hoặc dùng hoá trị liệu cũng như chiếu tia. Phối hợp metoclopramid với corticosteroid (như dexamethason) làm tăng tác dụng chống lại nôn và buồn nôn do hoá trị liệu. Metoclopramid có ích trong chứng trào ngược dạ dày – thực quản và liệt dạ dày cũng như để phòng ngừa hội chứng hít dịch vị vào khí quản. Metoclopramid còn được dùng để giúp luồn ống thông vào ruột non được dễ dàng khi chụp X quang. Tuy nhiên thuốc không có tác dụng phòng ngừa hoặc chữa chứng say tàu xe.

Metoclopramid có thể gây ra phản ứng loạn trương lực cấp như co thắt cơ mặt, cơ xương và cơn xoay mắt. Những phản ứng này thường gặp ở những người trẻ (đặc biệt là con gái và phụ nữ trẻ) và người cao tuổi; thường xảy ra một thời gian ngắn kể từ khi bắt đầu điều trị và giảm đi trong vòng 24 giờ sau khi ngừng thuốc.

Promethazin là một phenothiazin vừa phong bế thụ thể D2 dopaminergic vừa phong bế thụ thể muscarinic và thụ thể histamin H1. Thuốc có hiệu quả phòng ngừa và điều trị chứng chóng mặt và say tàu xe. Promethazin có thể phòng và điều trị buồn nôn và nôn sau phẫu thuật và do thuốc gây ra. Nhưng ít có tác dụng đối với nôn nhẹ và vừa do hoá trị liệu.

  1. Promethazin hydroclorid
  2. Domperidon
  3. Metoclopramid